Thứ Hai, 26 tháng 12, 2011

Luật sư Vũ Thị Hiên tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Quy định phí trông giữ xe qua đêm tại chung cư?"

(Dân trí) – Giá gửi xe theo quy định trên địa bàn TP. Hà Nội là bao nhiêu tiền/xe máy (gửi qua đêm)? Hiện tôi đang ở một chung cư và giá gửi xe vào buổi tối là 6.000đồng/lượt có đúng với quy định không? (Đỗ Xuân Nam; Email: xuannamkute@gmail.com).
Tại Điều 1 Quyết định số 107/2009/QD – UBND ngày 29/09/2009 Quyết định về việc bổ sung, điều chỉnh Quyết định số 25/2009/QD – UBND ngày 09/01/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về việc thu phí trông giữ xe đạp, xe máy, ô tô trên địa bàn thành phố Hà Nội quy định:
“1. Khung mức thu phí trông giữ xe ô tô trong nhà, tầng trệt, tầng hầm nhà chung cư quy định tạm thời như sau:
a. Xe có dung tích máy từ 1.750cm3 trở lên và có thời gian sử dụng trong vòng 3 năm kể từ năm sản xuất xe đến thời điểm ký hợp đồng trông giữ xe, mức thu tối đa bằng 2,5 lần mức thu tại biểu 1Quyết định số 25/2009/QĐ-UBND ngày 09/01/2009 của UBND Thành phố:
 Đơn vị tính: Đồng/xe/tháng
Địa bàn chung cư
Xe ô tô đến 9 ghế chỗ ngồi
Trông giữ ban ngày, mức tối đa
Trông giữ ban đêm, mức tối đa
Trông giữ ngày đêm, mức tối đa
- Tại 4 quận nội thành: Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa
750.000
1.000.000
1.250.000
- Tại các quận khác và thị xã Sơn Tây
600.000
800.000
1.000.000
- Tại các huyện ngoại thành
525.000
700.000
875.000
b. Các loại xe còn lại áp dụng mức thu tối đa bằng 2,0 lần mức thu tại biểu 1 Quyết định số 25/2009/QĐ-UBND:
Đơn vị tính: Đồng/xe/tháng
Địa bàn chung cư
Xe ô tô đến 9 ghế chỗ ngồi
Trông giữ ban ngày, mức tối đa
Trông giữ ban đêm, mức tối đa
Trông giữ ngày đêm, mức tối đa
- Tại 4 quận nội thành: Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa
600.000
800.000
1.000.000
- Tại các quận khác và thị xã Sơn Tây
480.000
640.000
800.000
- Tại các huyện ngoại thành
420.000
560.000
700.000
2. Mức thu phí trông giữ xe ô tô cụ thể không được cao hơn mức thu tối đa do UBND Thành phố quy định, giao chủ đầu tư thỏa thuận với ban quản trị hoặc người được nhân dân cử đại diện thống nhất mức thu cụ thể, gửi Sở Tài chính thẩm định.
Sở Tài chính có trách nhiệm thông báo kết quả thẩm định cho chủ đầu tư làm căn cứ để thực hiện mức thu cụ thể”.
Vì bạn không cung cấp cụ thể cho chúng tôi xe mà bạn đang gửi trông giữ là xe gì và trên địa nào tại thành phố Hà Nội, nên chúng tôi không thể kết luận được việc thu phí trông giữ xe đối với bạn là đúng hay sai. Đối chiếu vào quy định nêu trên bạn có thể biết được việc thu mức phí trông giữ xe đối với bạn là đúng hay sai.
Luật sư Vũ Thị Hiên
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011

Luật sư Vũ Thị Hiên tư vấn báo Dân Trí: "Thủ tục thay đổi họ, tên trong giấy khai sinh?"

Luật sư Vũ Thị Hiên tư vấn báo Dân Trí: "Thủ tục thay đổi họ, tên trong giấy khai sinh?"
(Dân trí) - Cháu chưa đăng ký kết hôn, sinh em bé được hơn một năm, khi bé được 3 tháng cháu đã khai sinh họ tên con theo họ của me, giờ cháu muốn đổi cho bé theo họ bố thì phải làm những thủ tục gì? (Bùi Thị Thanh Thân; Email: buithanhthannd@yahoo.com.vn).
Theo cách hỏi của bạn chúng tôi hiểu - cha của cháu bé đã tự nguyện nhận con, hiện giấy khai sinh của cháu để trống tên cha. Để tiến hành thủ tục thay đổi, cải chính Giấy khai sinh thì phải tiến hành thủ tục nhận cha cho con, sau đó mới tiến hành thủ tục thay đổi cải chính giấy khai sinh.
Thứ nhất về trình tự nhận cha cho con
Tại Điều 33 Nghị định 158/ND – CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch có quy định: “Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện việc đăng ký việc cha, mẹ, con”.
Cha của con bạn phải nộp Tờ khai theo mẫu, đồng thời có văn bản đồng ý của bạn về việc cho phép anh ấy làm cha của đứa trẻ, kèm theo tờ khai bạn phải xuất trình những giấy tờ sau: Giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao) của người con; b) Các giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con (nếu có)
Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, nếu xét thấy việc nhận cha cho con là đúng sự thật và không có tranh chấp, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã đăng ký việc nhận cha, mẹ, con.Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày.
Khi đăng ký việc nhận cha cho con các bên cha, mẹ phải có mặt. Cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký việc nhận cha cho con và Quyết định công nhận việc nhận cha cho con. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận việc nhận cha cho con. Bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của các bên” (Điều 34 – Nghị định 158/2005/ND –CP).
Thứ hai: Thủ tục đính chính, thay đổi giấy khai sinh
Tại Khoản 1 Điều 37 Nghị định 158 quy định: “Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi”
Như vậy, để làm thủ tục thay đổi họ cho con và bổ sung tên cha vào Giấy khai sinh của cháu thì bạn phải tới Ủy ban nhân dân xã nơi đã đăng ký khai sinh cho cháu để liên hệ làm thủ tục. Bạn phải nộp tờ khai theo mẫu cùng giấy tờ sau: Tờ khai theo mẫu, giấy khai sinh bản chính của cháu; quyết định công nhận cha cho con cùng chứng minh nhân dân; hộ khẩu. Sau khi nhận đủ hồ sơ, Ủy ban nhân dân xã sẽ tiến hành thủ tục thay đổi, đính chính giấy khai sinh cho con bạn. ( Để hiểu thêm bạn có thể tham khảo từ điều 36 đến điều 40 Nghị định 158/2005/ND -CP).
 Luật sư Vũ Thị Hiên
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011

Luật sư Vũ Thị Hiên tư vấn báo Dân Trí: "Thủ tục thanh toán phí mai táng cho cán bộ nghỉ hưu?"
(Dân trí) – Thủ tục thanh toán tiền mai táng phí cho cán bộ nghỉ hưu được tính như thế nào? Thời hạn được nhận tiền bao lâu sau khi mất? Xin cảm ơn! (Nguyễn thị Hoa; Email: hoathileloi@gmail.com).
Theo quy định Điểm c Khoản 1 Điều 63 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 (LBHXH) thì người đang hưởng lương hưu mà bị chết thì người lo mai táng sẽ được nhận trợ cấp mai táng.
Tại Khoản 2 Điều 63 LBHXH quy định: “Trợ cấp mai táng bằng mười tháng lương tối thiểu chung”.
Về trình tự thủ tục để hưởng tiền mai táng quy định như sau:
Tại Khoản 2 Điều 123 Luật BHXH quy định hồ sơ hưởng chế độ tử tuất bao gồm: “a) Sổ bảo hiểm xã hội đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội;b) Giấy chứng tử, giấy báo tử hoặc quyết định của Toà án tuyên bố là đã chết; ) Tờ khai của thân nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định”.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 124 Luật BHXH thì tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
 Luật sư Vũ Thị Hiên
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẠI VIỆT
VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG ĐẠI VIỆT
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166
Email: info@luatdaiviet.vn
Website: http://www.luatdaiviet.vn

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2011

Luật sư Vũ Thị Hiên tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Quyền được thăm con sau khi ly hôn?"

(Dân trí) - Vợ chồng anh trai tôi ly hôn, chị dâu tôi giành được quyền nuôi con. Nguyện vọng của anh tôi là mỗi tuần được đón con về chơi một ngày, song bên gia đình chị dâu không đồng ý. Chị dâu tôi làm vậy đúng hay sai? (Hồ Thị Cẩm Vân, Email: camvan267@gmail.com).
Tại Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về Quyền thăm nom con sau khi ly hôn: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.
Theo quy định nêu trên thì anh trai bạn có quyền được thăm nom con sau khi ly hôn. Hiện nay, chưa có bất kỳ một văn bản nào quy định chi tiết cụ thể về việc thăm nom con như thế nào. Trường hợp, nếu anh bạn muốn được đón cháu 1 tuần một lần thì anh trai và chị dâu bạn nên thỏa thuận tại Tòa án về việc nêu trên. Khi Tòa án đã ghi nhận sự thỏa thuận thì chị dâu bạn có nghĩa vụ phải chấp hành theo quyết định đó.
Mặt khác, chị dâu bạn cũng không có quyền được cản trở anh trai bạn thăm nom con, trừ trường hợp chị ấy chứng minh được anh trai bạn lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con. Tuy nhiên, việc cản trở này chỉ được thực hiện khi có quyết định của Tòa án.
Như vậy, nếu sau khi ly hôn mà chị dâu bạn có hành vi cản trở việc thăm nom con của anh trai bạn thì anh trai bạn có quyền yêu cầu Tòa án buộc chị dâu bạn phải chấm dứt hành vi cản trở quyền thăm nom con của anh trai bạn.
Luật sư Vũ Thị Hiên
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẠI VIỆT
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166 Email: info@luatdaiviet.vn
Website: http://www.luatdaiviet.vn

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011

Chia thừa kế theo quy định của pháp luật?

(Dân trí) - Xin Quý báo tư vấn giúp trường hợp sau: Cha và người con trai đã mất còn lại người vợ và người con gái. Vậy tài sản được chia như thế nào theo quy định của pháp luật? (Khánh Ly, Email: tieuthu.haycuoi1981989@yahoo.com)

Trả lời:
Vì thông tin bạn cung cấp không đầy đủ nên chúng tôi tư vấn như sau:
1. Về di sản: Người cha và người con trai đã mất thì tài sản thuộc quyền sở hữu của họ sẽ trở thành di sản thừa kế. Theo Điều 634 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.
2. Về di chúc:
Nếu trước khi chết họ để lại di chúc hợp pháp thì tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác sẽ được chia theo nội dung của di chúc. Tuy nhiên, Điều 669 Bộ luật dân sự cũng quy định về Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:
1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.”
Nếu người thừa kế của người cha và người con thỏa mãn quy định nêu trên thì nếu không có tên trong di chúc vẫn được hưởng di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật.
3. Về hàng thừa kế:
Nếu cha và người con trai chết đi không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp theo quy định của pháp luật
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Người thừa kế theo pháp luật như sau: “Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”. Theo khoản 2 Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau”.
Căn cứ Điều 635 Bộ luật dân sự quy định về Người thừa kế như sau:
“Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”.
- Trường hợp người con trai chết sau người cha: Người được hưởng di sản thừa kế là người còn sống vào thời điểm người để lại di sản chết. Nếu người cha chết đi thì người vợ, cha mẹ đẻ, cha mẹ mẹ nuôi, người con trai và người con con gái... nếu thỏa mãn các điều kiện nêu trên sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất và sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau. Ví dụ trong trường hợp bạn hỏi nếu ông bà nội của bạn đã mất thì hàng thừa kế thứ nhất của bố bạn gồm: mẹ bạn và hai người con. Di sản của bố bạn được chia thành ba phần bằng nhau, mỗi người hưởng một phần. Như vậy người con gái chỉ được thừa kế từ người cha. Sau khi người cha chết, người con trai cũng chết thì di sản của người con trai thuộc quyền sở hữu của người mẹ, người con gái là hàng thừa kế thứ 2 của người con trai không được hưởng thừa kế từ người con trai.
- Trường hợp người con trai chết trước hoặc cùng thời điểm với người cha:
Căn cứ Điều 677 Bộ luật dân sự quy định về Thừa kế thế vị như sau:
Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
Như vậy, nếu người con trai chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người cha thì cháu (con của người con trai) được hưởng phần di sản mà cha của cháu được hưởng nếu còn sống.
Luật sư Vũ Hải Lý
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Tổng đài tư vấn: 1088 (nhánh 4.4 và 4.5)
Hot-line: 0933 668 166

Luật sư Ngô Thị Lựu tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Quy định cấp bù học phí cho đối tượng là con thương binh?"

(Dân trí) - Tôi đang là sinh viên năm thứ 3, bố tôi là thương binh nhưng 2 năm học vừa qua tôi vẫn phải đóng đầy đủ học phí theo quy định của trường. Tôi có nằm trong diện được cấp bù học phí, tiền trợ cấp hàng tháng dành cho gia đình chính sách không? (Dương Tùng, Đông Sơn, Thanh Hóa, email: duongtung10590@yahoo.com)
Thông tư 29/2010/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH ngày 15/11/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Lao động thương binh xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính Phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015 quy định: “Trong vòng 30 ngày kể từ ngày bắt đầu học kỳ, học sinh, sinh viên phải làm đơn đề nghị cấp tiền hỗ trợ miễn, giảm học phí có xác nhận của cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập gửi phòng lao động xã hội cấp huyện kèm theo các giấy tờ thuộc đối tượng được miễn, giảm học phí.
Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập có trách nhiệm xác nhận cho học sinh, sinh viên thuộc đối tượng miễn, giảm, học phí vào đơn đề nghị cấp tiền miễn, giảm học trong vòng 30 ngày sau khi kết thúc học kỳ đối với học sinh, sinh viên đang học để học sinh, sinh viên nộp về phòng Lao động thương binh xã hội cấp huyện làm căn cứ chi trả tiền hỗ trợ miễn, giảm học phí”.
Theo đó, tại Thông tư 29/2010/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH quy định rõ trách nhiệm: “Phòng lao động thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm quản lý, tổ chức thực hiện chi trả cấp bù học phí trực tiếp bằng tiền mặt cho cha mẹ học sinh, sinh viên có con đang học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập. Chậm nhất trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ đề nghị cấp bù miễn, giảm học phí. Phòng lao động thương binh xã hội có trách nhiệm thanh toán, chi trả tiền cấp học phí miễn, giảm cho gia đình người học theo quy định (Trường hợp hồ sơ không hợp lệ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm thông báo cho gia đình người học được biết trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận được đầy đủ hồ).
Trường hợp gia đình học sinh, sinh viên chưa nhận tiền hỗ trợ miễn, giảm học phí thời hạn quy định thì được truy lĩnh trong kỳ chi trả tiếp theo”.
Trường hợp của bạn nêu, nếu bạn chưa được cấp bù tiền học phí đúng thời hạn như quy định nêu trên và trợ cấp hàng tháng. Bạn có thể trực tiếp liên hệ Phòng Lao động, thương binh và xã hội huyện Đông Sơn để được giải quyết.
Luật sư Ngô Thị Lựu
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2011

adv1 logo Hướng dẫn người nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam HDTTNCN website liên kết với Luật Đại Việt Luật sư Ngô Thị Lựu tư vấn luật trên báo dân trí: "Quy định về lịch làm việc của giáo viên?"

(Dân Trí) - Trường tôi xếp lịch dạy cho giáo viên ngày 2 buổi (sáng và chiều) từ thứ 2 đến thứ 7. Xin cho biết phân công của trường như vậy là đúng hay sai? (Lê Thị Trúc, trucmale@yahoo.com.vn)
Với nội dung thông tin mà bạn đọc cung cấp chúng tôi không nắm rõ, trong một tuần, một ngày bạn phải làm việc bao nhiêu giờ? Do vậy chúng tôi đưa ra các căn cứ để bạn đối chiếu và đưa ra đáp áp phù hợp cho trường hợp của bạn.
Tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật lao động quy định: “Thời giờ làm việc không quá tám giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong một tuần. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo trứơc cho người lao động biết”.
Tại Điều 5 Quy chế ban hành kèm theo - Thông tư 28/2009/TT-BGDDT ngày 21 tháng 10 năm 2009 của Bộ giáo dục đào tạo quy định: “Thời gian làm việc của giáo viên tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trong năm học là 42 tuần”.
Tại khoản 1 Điều 6 Quy chế quy định định mức tiết dạy: Định mức tiết dạy của giáo viên tiểu học là 23 tiết, giáo viên trung học cơ sở là 19 tiết, giáo viên trung học phổ thông là 17 tiết.
Như vậy, ngành giáo dục làm việc cả thứ bảy và nếu nhà trường xếp lịch cho bạn lên lớp thứ bảy nhưng không quá thời gian làm việc quy định trên tuần, và định mức tiết dạy nêu trên thì không vi phạm quy định của pháp luật.
Luật sư Ngô Thị Lựu
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Tư, 14 tháng 12, 2011

Văn phòng luật sư

(Dân trí) - Tôi là giáo viên, học nâng cao đại học hệ từ xa. Hiện nay tỉnh Thanh Hoá không thi nâng ngạch viên chức cho những người tốt nghiệp đại học từ xa; tại chức,… tỉnh Thanh Hóa làm vậy có đúng quy định của pháp luật không? (Lê Lan, Email: lelan982676).
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Viên chức được xét chuyển loại viên chức và thi nâng ngạch viên chức, với nội dung câu hỏi của bạn đọc chúng tôi hiểu rằng bạn đọc đang quan tâm đến điều kiện, tiêu chuẩn để thi nâng ngạch viên chức. Chúng tôi xin đưa ra quy định của pháp luật để bạn đọc đối chiếu
Tại phần III Thông tư số 04/2007/TT-BNV ngày 21/6/2007 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ và Nghị định số 121/2006/NĐ-CP ngày 23/10/2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước quy định thi nâng ngạch viên chức như sau:
“Điều kiện về tiền lương: Viên chức tham gia thi nâng ngạch phải đạt hệ số lương chênh lệch thấp hơn không quá tương đương hai bậc lương so với bậc một của ngạch dự thi và trường hợp khác:
Ví dụ 4: Viên chức tham gia thi nâng ngạch từ các ngạch xếp lương viên chức loại A1 nhóm 1 (như lưu trữ viên, dự báo viên bảo vệ thực vật, thư viện viên...) lên các ngạch xếp lương viên chức loại A2 nhóm 2 (như lưu trữ viên chính, dự báo viên chính bảo vệ thực vật, thư viện viên chính...) thì phải đạt hệ số lương không thấp hơn bậc 5/9, hệ số 3,66.”
Như vậy, đối chiếu với quy định này thì điều kiện để thi nâng ngạch không phải là điều kiện về loại hình đào tạo mà điều kiện là tiền lương của viên chức thi nâng ngạch. Trường hợp mà bạn hỏi bạn có thể làm đơn đề nghị gửi về Sở nội vụ tỉnh Thanh Hoá để được trả lời cụ thể.
Luật sư Ngô Thị Lựu
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Ba, 13 tháng 12, 2011

Luật sư Vũ Hải Lý tư vấn luật trên báo dân trí: "Ngân hàng giao dịch nhầm, khách hàng có phải hoàn lại tiền?"

(Dân trí) – Cách đây gần 2 tháng có một khách hàng đến rút tiền tại Ngân hàng em, em đã giao tiền và cho khách ký nhận, nhưng trên hệ thống em lại bấm nhầm vào phần khách nộp tiền. Vậy, khách hàng có nghĩa vụ hoàn lại tiền cho Ngân hàng không? Sau khi em phát nhầm lệnh 1 tiếng thì vị khách hàng ấy đã cầm thẻ ATM ra cây rút hết tiền. Khi nhân viên Ngân hàng gọi điện trao đổi thì vị khách này chối quanh co,  không có thiện chí hợp tác. Như vậy, khách hàng có vi phạm pháp luật không? (Nguyễn Bích Loan, Email: nguyenloan1289@gmail.com).
Căn cứ Điều 183 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về chiếm hữu có căn cứ pháp luật như sau:
“Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau đây:
1. Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
2. Người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản;
3. Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
4. Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;
5. Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;
6. Các trường hợp khác do pháp luật quy định”.
Đồng thời điều 233, 234, 235, 241, 245, 245… Bộ luật Dân sự cũng quy định về xác lập quyền sở hữu do lao động, do hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp, theo thoả thuận của các bên trong giao dịch, do thừa kế, theo bản án, quyết định Tòa án hoặc theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác… thì khi có sự kiện xảy ra theo đúng quy định của pháp luật, người chiếm hữu tài sản đó mới được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó.
Theo quy định nêu trên thì khách hàng của bạn có được khoản tiền đó là không có căn cứ, không phải là chủ sở hữu cũng không phát sinh từ giao dịch dân sự nào mà do thao tác nhầm của bạn mà được hưởng số tiền lớn. Khi khách hàng được lợi về tài sản không có căn cứ thì theo khoản 1 điều 599, Bộ luật Dân sự 2005 quy định phải hoàn trả cho người chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Trường hợp không tìm được chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản đó thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trong trường hợp khách hàng của bạn nói mất thẻ ATM thì người khác cũng không thể rút được số tiền này do không thể biết mật khẩu. Khi tiến hành làm thẻ ATM khách hàng cũng đã cam đoan không cho người khác mượn thẻ, khi mất phải báo Ngân hàng. Vì vậy kể cả khi người khác chứ không phải khách hàng của bạn rút tiền Ngân hàng vẫn có quyền yêu cầu khách hàng trả lại khoản tiền đã rút do Ngân hàng chuyển nhầm.
Trong trường hợp khách hàng cố tình không hoàn trả lại số tiền mà Ngân hàng đã chuyển nhầm thì Ngân hàng có quyền tố cáo đến cơ quan Công an đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép tài sản theo quy định tại điều 141, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009: “Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hoá bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

Luật sư Vũ Hải Lý
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Đăng ký kinh doanh

Đăng ký kinh doanh

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2011

Phân chia tài sản sau ly hôn

Giải quyết tài sản sau ly hôn
(Dân trí) - Vợ chồng tôi ly hôn đến nay được 9 tháng, khi ra tòa cả hai cùng đồng ý cho hai con ngôi nhà đứng tên hai vợ chồng. Nay chồng tôi không làm thủ tục cho hai cháu. Việc kéo dài thời gian như vậy có ảnh hưởng đến quyền lợi của các cháu không?
(Lê Quỳnh Ngọc, email: bienxanh9559@gmail.com)

Ảnh minh họa
Trả lời:
Theo thông tin chị cung cấp thì mảnh đất và ngôi nhà là tài sản chung của vợ chồng anh chị.           
Việc anh chị thỏa thuận tài sản cho hai con đã được Tòa án ghi nhận trong Bản án (Quyết định) mà anh chồng chị không thực hiện việc sang tên cho hai con thì chị yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cháu.
 
Để được thi hành án chị làm đơn và gửi đến cơ quan thi hành án. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật thi hành án: “Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người thi hành án nhận được bản án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án”.
 
Trong trường hợp sau thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án mà anh chồng chị không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.
Luật sư Vũ Hải Lý
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2011

Các biện pháp bảo đảm thi hành án?

(Dân trí) - Công ty tôi đang chờ thi hành án với Công ty A. Vốn điều lệ họ đã góp là 10 tỷ đồng, nhưng họ lại cố tình không trả cho chúng tôi khoản nợ 65 triệu đồng. Làm thế nào để họ có trách nhiệm kinh tế với những gì đã gây ra?
(Phạm Quang Chỉnh, Email: chinhkd@ymail.com).
Ảnh minh họa
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật Thi hành án dân sự thì Công ty A có thời hạn 15 ngày để tự nguyện thi hành án cụ thể: Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.
 
Căn cứ khoản 1 Điều 46 Luật thi hành án dân sự: “Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.
Như vậy nếu hết thời hạn tự nguyện thi hành án, Công ty A có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.
Trong trường hợp Công ty A có điều kiện thi hành án, bạn có quyền đề nghị chấp hành viên áp dụng các biện pháp đảm bảo thi hành án theo quy định tại Điều 66 Luật thi hành án dân sự, cụ thể:
1. Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án. Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên không phải thông báo trước cho đương sự.
2. Người yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường.
3. Các biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm:
a) Phong toả tài khoản;
b) Tạm giữ tài sản, giấy tờ;
c) Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản”.
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Luật sư Nguyễn Thị Phượng Tư vấn về sổ đỏ của nhà trong diện quy hoạch

"Nếu nằm trong vùng quy hoạch nhưng nhà của bạn không thuộc đối tượng buộc phải thu hồi thì bạn vẫn tiếp tục thực hiện quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà", luật sư Nguyễn Thị Phượng tư vấn.> Đất trong diện quy hoạch có được cấp sổ đỏ? (Thu Trà)

Theo thông tin bạn cung cấp, chúng tôi không rõ nhà của bạn nằm trong vùng quy hoạch nhưng có thuộc diện phải thu hồi đất hay không. Nếu nằm trong vùng quy hoạch nhưng nhà của bạn không thuộc đối tượng buộc phải thu hồi thì bạn vẫn tiếp tục thực hiện quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trong phạm vi nội dung quy hoạch đồng thời có thể làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Đối với trường hợp nhà của bạn nằm trong khu quy hoạch và phải thu hồi thì chúng tôi cung cấp một số quy định để bạn tham khảo như sau:
Khoản 2, Điều 29 Luật đất đai năm 2003 quy định: “Trường hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố có diện tích đất phải thu hồi mà Nhà nước chưa thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng theo mục đích đã xác định trước khi công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; nếu người sử dụng đất không còn nhu cầu sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất và bồi thường hoặc hỗ trợ theo quy định của pháp luật.
Nhà nước nghiêm cấm mọi hoạt động tự ý xây dựng, đầu tư bất động sản trong khu vực đất phải thu hồi để thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Trường hợp có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình gắn liền với đất phải thu hồi mà làm thay đổi quy mô, cấp công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép”.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 4 Điều này, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được xử lý theo quy định sau:
a) Tại thời điểm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với đất thuộc vùng đã có quy hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn (gọi chung là quy hoạch) được xét duyệt mà việc sử dụng đất phù hợp với quy hoạch đó và chưa có quyết định thu hồi đất trong trường hợp đất phải thu hồi thì được cấp Giấy chứng nhận.
Trường hợp đất có nhà ở thì người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất ở đang sử dụng nhưng diện tích không phải nộp tiền sử dụng đất không vượt quá hạn mức giao đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại khoản 2 Điều 83 và khoản 5 Điều 84 của Luật Đất đai tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận; đối với diện tích đất ở ngoài hạn mức (nếu có) thì phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP.
c) Trường hợp đất đã được sử dụng trước thời điểm quy hoạch được xét duyệt nhưng tại thời điểm cấpGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất việc sử dụng đất không phù hợp với quy hoạch đã được xét duyệt và cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa có văn bản về chủ trương thu hồi đất theo quy định tại Điều 49 của Nghị định này thì người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại điểm a khoản này;
d) Trường hợp đất đã được sử dụng trước thời điểm quy hoạch được xét duyệt nhưng tại thời điểm cấpGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất việc sử dụng đất không phù hợp với quy hoạch đã được xét duyệt và đã có chủ trương thu hồi đất bằng văn bản theo quy định tại Điều 49 Nghị định này thì người sử dụng đất không được cấp Giấy chứng nhận nhưng được sử dụng đất theo hiện trạng cho đến khi có quyết định thu hồi đất;
đ) Trường hợp quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt điều chỉnh mà toàn bộ hoặc một phần thửa đất phù hợp với quy hoạch điều chỉnh đó hoặc trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hủy quy hoạch thì người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại điểm a khoản này”.
Theo quy định tại khoản 4, Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP thì hộ gia đình, cá nhân không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần diện tích đất được sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 trong trường hợp tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi vi phạm sau:
a) Vi phạm quy hoạch chi tiết xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai;
b) Vi phạm quy hoạch chi tiết mặt bằng xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai đối với diện tích đất đã giao cho tổ chức, cộng đồng dân cư quản lý;
c) Lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã được công bố, cắm mốc;
d) Lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè đã có chỉ giới xây dựng;
đ) Lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức, đất chưa sử dụng và các trường hợp vi phạm khác đã có văn bản ngăn chặn nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm”.
Tuy nhiên cần lưu ý, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP nêu trên, nhưng phù hợp với quy hoạch tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận (khoản 5, Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP).
Như vậy, bạn thuộc trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định chúng tôi viện dẫn ở trên, thì hồ sơ cấp Giấy chứng nhận được quy định tại Điều 16, Nghị định số 88/2009/NĐ-CP, cụ thể như sau:
“1. Người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp một (01) bộ hồ sơ gồm có:
a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận;
b) Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai (nếu có);
c) Giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 8 của Nghị định này đối với trường hợp tài sản là nhà ở;
d) Giấy tờ về quyền sở hữu công trình xây dựng theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Nghị định này đối với trường hợp tài sản là công trình xây dựng;
đ) Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (nếu có);
e) Sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ quy định tại các điểm b, c và d khoản này đã có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng).”
Theo quy định tại Điều 11, Nghị định số 88/2009/NĐ-CP, bạn nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Hai Bà Trưng, Hà Nội để được giải quyết.
Thời gian thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ được quy định là không quá năm mươi (50) ngày làm việc đối với trường hợp cấp Giấy chứng nhận lần đầu. Thời gian này không kể thời gian công khai kết quả thẩm tra, thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính, thời gian trích đo địa chính thửa đất (theo Điều 12, Nghị định số 88/2009/NĐ-CP).
Luật sư Nguyễn Thị Phượng
Công ty Luật Đại Việt
Số 335 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội

Luật sư Vũ Hải Lý tư vấn luật trên báo dân trí: "Mức phạt hành chính khi “để xe không đúng nơi quy định”?"

(Dân trí) – Tôi đi mua máy tính và để xe trên vỉa hè, trước cửa hàng của họ thì bị Công an phường phạt 300 nghìn đồng với lý do: "Để xe không đúng quy định". Vậy, tôi để xe như vậy có sai quy định không? Nếu sai thì bị phạt bao nhiêu? (Trần Quốc Dũng, email: quocdungtran@yahoo.com).
Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 9 của Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày 02/4/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ xử phạt người điều khiển, người ngồi trên mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ: người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển  xe thô sơ khác vi phạm quy tắc giao thông đường bộ:
“Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau: Để xe ở lòng đường, hè phố trái quy định của pháp luật”.
Như vậy, theo quy định nếu bạn để xe ở hè phố trái quy định của pháp luật thì bạn sẽ bị phạt từ 80.000 đến 100.000 đồng.

Luật sư Vũ Hải Lý
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166
Đăng ký kinh doanh
Văn phòng luật sư có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Tư vấn thành lập doanh nghiệp
Thủ tục thành lập công ty
thủ tục đăng ký hộ kinh doanh cá thể
Thủ tục thành lập chi nhánh
Thủ tục thay đổi địa chỉ công ty
Thủ tục thành lập công ty tnhh
Thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh
Thủ tục thành lập văn phòng đại diện
Thành lập công ty cổ phần
Thủ tục thành lập công ty cổ phần
Thủ tục thành lập doanh nghiệp
Thủ tục thành lập chi nhánh
Thủ tục thay đổi trụ sở công ty
Thủ tục thay đổi giám đốc công ty
Thủ tục tăng vốn điều lệ
Thủ tục thay đổi con dấu
Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Thủ tục giải thể doanh nghiệp
Thủ tục giải thể công ty
Thay đổi đăng ký kinh doanh
Thủ tục Đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ
Tư vấn Luật
Tư vấn dự án
Tư vấn đầu tư

Thủ tục ly hôn nhanh nhất
Tư vấn luật nhà ở
Tư vấn Luật
Tư vấn tranh chấp quyền sử dụng đất
Tư vấn về quyền nuôi con khi ly hôn
Tư vấn phân chia tài sản khi ly hôn
Văn phòng luật sư ở Hà Nội
Văn phòng luật sư nổi tiếng nhất ở Hà Nội
Bổ sung ngành nghề kinh doanh
Trình tự chuyển đổi doanh nghiệp
Hồ sơ chuyển đổi doanh nghiệp
Điều kiện chuyển đổi doanh nghiệp

Dịch vụ đăng ký kinh doanh ở Hà Nội
Thành lập doanh nghiệp trọn gói
Đăng ký kinh doanh nhanh nhất ở Hà Nội
Thủ tục đầu tư nước ngoài
Quy trình đầu tư dự án trong nước
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Đăng ký bản quyền thương hiệu
Thủ tục đăng ký kiểu dáng công nghiệp
Thủ tục đăng ký thương hiệu
Thủ tục gia hạn văn bằng bảo hộ
Bảo hộ thương hiệu độc quyền
Thủ tục ly hôn
Thủ tục ly hôn đơn phương

Tư vấn luật hôn nhân gia đình

Thủ tục kết hôn với người nước ngoài
Tư vấn luật lao động
Tư vấn luật đất đai

Thủ tục sang tên sổ đỏ
Tư vấn thừa kế đất đai
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẠI VIỆT

Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội

Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966

Hot-line: 093 366 8166

Email: info@luatdaiviet.vn

Website: http://www.luatdaiviet.vn

Đăng ký kinh doanh

Luật Đại Việt là hãng luật với nhiều năm kinh nghiệm, chuyên tư vấn về lĩnh vực Luật doanh nghiệp. Đến với chúng tôi, quý Khách hàng sẽ được các chuyên viên và Luật sư giàu kinh nghiệm tư vấn và phục vụ tốt nhất với chi phí dịch vụ hợp lý.
1. Người thành lập doanh nghiệp nộp đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật này tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh.
2. Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét hồ sơ đăng ký kinh doanh và cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ; nếu từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì thông báo bằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp biết. Thông báo phải nêu rõ lý do và các yêu cầu sửa đổi, bổ sung.
3. Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; không được yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp thêm các giấy tờ khác không quy  định tại Luật Doanh nghiệp 2005.
4. Thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh gắn với dự án đầu tư cụ thể thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư.

Liên hệ:
Luật sư  Đinh Vũ Hòa
Phòng Doanh nghiệp & Đầutư
Tell:(84-4)37478888 / 0933.668.166
Email: vuhoa@luatdaiviet.vn
Luật sư Ngô Thế Thêm
Phòng Doanh nghiệp & Đầu tư
Tell:04.37478888 Máy lẻ 108
Email:luatsungothethem@luatdaiviet.vn

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2011

Luật sư Vũ Hải Lý tư vấn báo dân trí: "Học liên thông có được tạm hoãn nghĩa vụ quân sự? "

(Dân trí) - Em sinh năm 1989, đậu liên thông đại học Công nghiệp 4 TP. Hồ Chí Minh, thời gian học không bị ngắt quãng em có được tạm hoãn nghĩa vụ quân sự năm 2011 không? (Bạn đọc có Email: nu1958vn@yahoo.com.vn).
Căn cứ điểm e, khoản 1, điều 29 Luật nghĩa vụ quân sự đã được sửa đổi bổ sung qua các năm 1990, 1994, 2005 quy định: “Những công dân sau đây được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình: ...Đang học ở các trường phổ thông, trường dạy nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học do Chính phủ quy định”.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư liên tịch số 175/2011/TTLT-BQP-BGDĐT ngày 13/9/2011 của Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 38/2007/NĐ-CP ngày 15/3/2007 của Chính phủ về tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ thời bình đối với công dân nằm trong độ tuổi gọi nhập ngũ: “Công dân nêu tại điểm b, điểm c, điểm d khoản 1 Điều này chỉ được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong một khoá đào tạo tập trung đầu tiên, trường hợp tiếp tục học tập ở các khoá khác thì không được tạm hoãn gọi nhập ngũ.
Thời gian một khóa đào tạo tập trung được tính từ ngày nhà trường quy định có mặt nhập học (ghi trong giấy báo nhập học) đến khi tốt nghiệp khoá học. Một khoá học chỉ thực hiện ở một trình độ đào tạo, trường hợp đào tạo liên thông phải liên tục không gián đoạn”.
Như vậy trong trường hợp bạn học hệ cao đẳng của trường đại học này (Cao đẳng Công nghiệp) và sau khi tốt nghiệp cao đẳng bạn trúng tuyển vào trường đại học Công nghiệp thì thời gian học liên thông đại học của bạn sẽ được tạm hoãn gọi nhập ngũ.
Trường hợp bạn học liên thông đại học tại trường nhưng bị gián đoạn, không liên tục thì bạn sẽ không thuộc trường hợp tạm hoãn gọi nhập ngũ.
Luật sư Vũ Hải Lý
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2011

hỏi về Quyền nuôi con khi ly hôn

Quyền nuôi con khi ly hôn?
Câu hỏi: (Dân trí) - Bạn tôi là bộ đội chuyên nghiệp do đồi sống vợ chồng không hạnh phúc. Giờ bạn tôi muốn làm thủ tục li hôn thì con cái sẽ được giải quyết như nào? (Nguyễn Thị Hanh, Email: hanhnguyen8x.h)
Trả lời:
Tại khoản 2 Điều 92 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định như sau: “Vợ chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con, nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác”
Theo đó, tại điểm d phần 11 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số điều của Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định cụ thể hơn: “Trong trường hợp, vợ chồng không thoả thuận được về người trực tiếp nuôi con thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Nếu con từ đủ chín tuổi trở lên, thì trước khi quyết định, Toà án phải hỏi ý kiến của người con đó về nguyện vọng được sống trực tiếp với ai. Về nguyên tắc, con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi con, nếu các bên không có thoả thuận khác”.
Vì thông tin của bạn cung cấp không đầy đủ do đó chúng tôi không hiểu là bạn của bạn có mấy con? Các con ở độ tuổi nào?…khi giải quyết vụ án ly hôn có tranh chấp về con cái, Toà án sẽ căn cứ vào độ tuổi của con, điều kiện của cha mẹ…để giao con cho cha hoặc mẹ nuôi.Chúng tôi đưa ra các quy định trên đây của pháp luật để bạn đọc đối chiếu đưa ra câu trả lời phù hợp.
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Chồng đơn phương xin ly hôn khi vợ đang nuôi con nhỏ

Câu hỏi: (Dân trí) - Anh trai của mình kết hôn được hơn 4 tháng, trong thời gian đó bố mình bệnh nặng, chị ấy bỏ về nhà mẹ đẻ suốt, tính ra ở cùng với anh ấy chưa được 1 tháng. Nay 2 người muốn ly hôn, chị ấy có thai được hơn 1 tháng rồi. Chị ấy muốn bỏ nhưng không chịu viết đơn, nói rằng sẽ viết nhưng không phải là bây giờ. Anh trai mình muốn giải quyết nhanh gọn. Vậy anh trai mình có thể đơn phương viết đơn không? (Anh còn nợ chị 1 khoản tiền nhỏ) (Bạn đọc ở email: luu_luy86@yaoo.com)
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn thì: “Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn”. Vậy, theo quy định này thì trong thời gian người vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới mười hai tháng tuổi thì người chồng không có quyền đơn phương xin ly hôn và anh trai của bạn phải tuân theo quy định pháp luật này. Tuy nhiên nếu hai vợ chồng anh chị bạn cùng thuận tình ly hôn thì sẽ được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về thuận tình ly hôn, cụ thể: “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định”.
Việc giải quyết cho ly hôn sẽ được Tòa án dựa trên căn cứ ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình, cụ thể như sau:
“.Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn”
Như vậy tại thời điểm hiện tại nếu anh trai của bạn đơn phương xin ly hôn thì sẽ không được Tòa án giải quyết mà phải là cả hai vợ chồng thuận tình xin ly hôn. Về căn cứ ly hôn sẽ tuân theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình nêu trên. Việc vay nợ giữa hai vợ chồng như bạn trình bày không ảnh hưởng đến quyền yêu cầu xin ly hôn mà sẽ được Tòa án giải quyết luôn trong vụ án ly hôn theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình hoặc được giải quyết riêng trong một vụ án dân sự theo yêu cầu của anh chị bạn.
Luật sư Vũ Hải Lý
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966